Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

Tăng số giờ làm thêm trong một năm: Cần thiết cho doanh nghiệp và người lao động

Trong đó, việc có nên cho doanh nghiệp (DN) tăng thêm thời gian làm việc hay không, cụ thể là mở mang khung thỏa thuận làm thêm trong các trường hợp đặc biệt từ tối đa 300 giờ lên 400 giờ mỗi năm, đang tồn tại những ý kiến trái chiều.

Không ít ý kiến cho rằng, công nhân cần làm ít giờ đi để có thêm thời gian nghỉ ngơi nhằm tái hiện sức lao động và lương phải cao lên. Quá đúng và quá đạo đức! Có người khuyên: DN phải ứng dụng công nghệ mới để nâng cao năng suất, giảm cường độ làm việc cho người cần lao. Quá đúng và không sai! Tuy nhiên trên thực tiễn, việc quy định số giờ làm thêm của người lao động không được nới rộng, sẽ có ảnh hưởng lớn tới nhiều vấn đề.

Việc tăng số giờ làm thêm trong một năm để đảm bảo sự linh hoạt cho người dùng lao động, tăng khả năng cạnh tranh về thị trường cần lao so với các nhà nước trong khu vực. Đặc biệt là trong hội nhập kinh tế quốc tế, hợp với các điều kiện nước ta là một nước đang phát triển và hợp với thực tế người cần lao có nhu cầu làm thêm giờ để tăng thu nhập. Khi mở mang khung thời kì được phép làm thêm thì cần bảo đảm quyền tự quyết của người lao động khi tham gia hoạt động này.

Theo các chuyên gia lao động, nhu cầu làm thêm cốt tử rơi vào nhóm DN thâm dụng lao động như dệt may, giày da... Đơn hàng từ đối tác của nhóm các DN này thường không ổn định dẫn đến việc phải hoàn thành gấp. Từ đó, chủ sử dụng cần lao buộc phải thỏa thuận tăng ca với người cần lao.

Việc nâng thỏa thuận giờ làm thêm tối đa từ 300 giờ lên 400 giờ cho một số ngành nghề có tính đặc thù trong năm đã phần nào đáp ứng nhu cầu làm thêm giờ của đa số người cần lao, song song giải quyết được tình trạng thiếu hụt lao động và không bị gò bó bởi thời gian làm thêm giờ trong năm, tạo điều kiện cho các DN có tính thời vụ. Hơn nữa, nếu nhiều ngành không cho làm thêm, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với ngành nông nghiệp. Như mía đường chỉ sản xuất trong 4 tháng, thủy sản, lúa cũng thu hoạch theo vụ nếu không cho làm thêm thì sản phẩm nông sản sẽ chẳng thể bảo quản được. Một số ngành công nghiệp như: dệt may, da giày, điện tử nếu DN có đơn đặt hàng mà không cho làm thêm thì rất khó để hoàn thành đúng tiến độ.

Ở góc nhìn của các đơn vị dùng lao động cho thấy, DN chịu sức ép cạnh tranh với DN trong khu vực chứ không chỉ DN nội địa. Quy định thời gian làm thêm còn tác động đến khả năng được nhận đơn hàng hay không, bởi phải qua quá trình đánh giá về bổn phận từng lớp từ đối tác dựa trên Bộ luật lao động. Chất lượng sản phẩm, khách rất vừa lòng, nhưng rớt hiệp đồng vì ảnh hưởng từ số giờ làm việc chính thức và giờ làm thêm. Trong khi các nước khác đạt hợp đồng dù điều kiện làm việc, bảo hộ cần lao, tiền lương, chăm lo cho công nhân không bằng DN nước mình. DN không phát triển thì đời sống công nhân ảnh hưởng, tác động kim ngạch xuất khẩu và ảnh hưởng nền kinh tế, thu nhập nhà nước.

Nhìn ra các quốc gia khác cho thấy, nước Nhật Bản no đủ gấp bội ta, người lao động bên Nhật luôn làm việc vô cùng mình cùng với tính kỷ luật cao độ, Chính phủ Nhật vẫn cho phép DN và người cần lao được tăng thêm thời gian làm việc hàng năm cao hơn nhiều so với Việt Nam. Với các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan hay Trung Quốc cũng vậy... Trong khi tại Indonesia, giờ làm thêm là 728 giờ/năm, còn Việt Nam nếu không nới rộng thời gian làm thêm cho DN và người cần lao, thì đối tác sẽ tuyển lựa các nước khác cho đơn hàng.

Trong khi đó, chi phí sinh sản mỗi ngày một tăng, đặc biệt là tổn phí nhân công (gồm lương lậu, thưởng, các loại bảo hiểm...) thường chiếm từ 85 - 87% trong tổng giá trị gia công. Còn lại trên 15% phí tổn tiếp dành cho khấu hao, phí quản lý, phục vụ, điện, nước, chuyển vận, giao nhận, đồng phục...

chẳng những thế, giá gia công mỗi càng ngày càng giảm bởi sức mua giảm sút của thị trường. cho nên, việc khống chế thời kì làm thêm ở DN Việt Nam thấp hơn nhiều so các nước xung quanh vững chắc sẽ làm sức cạnh tranh của các DN Việt càng thêm yếu, GDP nhà nước sẽ bị sụt giảm nhiều, DN sẽ rơi vào tình trạng hiểm nguy vì dự trữ tài chính quá hẻo, không đủ sức chống đỡ các tình huống bất khả kháng của thời vận.

Ðề nghị tăng thêm thời kì làm việc mỗi năm, cũng là để người lao động có điều kiện tận dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật tư đang có sẵn trên dây chuyền sinh sản với thời kì làm thêm vừa phải để tăng thêm nguồn thu nhập lương thiện và chính đáng cho mình...

kiên trinh

0 nhận xét:

Đăng nhận xét